Dịch vụ logistics ngoài Việt Nam có chịu thuế GTGT không?
Trong hoạt động logistics quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam có thể ký hợp đồng cung cấp dịch vụ cho một doanh nghiệp khác tại Việt Nam, nhưng một số công việc thực tế lại được thực hiện hoàn toàn ở nước ngoài. Các dịch vụ này có thể bao gồm làm hàng, thủ tục hải quan, bốc xếp, nâng hạ, đóng gói hoặc những dịch vụ hỗ trợ vận tải khác tại cảng, sân bay hay kho hàng ở nước ngoài.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp có phải tính thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam hay không? Cùng ECUS tìm hiểu câu trả lời trong bài viết dưới đây.
1. Dịch vụ logistics ngoài Việt Nam có chịu thuế GTGT?
Theo Công văn số 5744/CT-CS ngày 10/8/2026 của Cục Thuế hướng dẫn chính sách thuế giá trị gia tăng (GTGT).
Dịch vụ hỗ trợ vận tải Logistics quốc tế được thực hiện hoàn toàn ngoài Việt Nam và không được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng tại Việt Nam thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT.
Cụ thể, Cục Thuế đã có ý kiến về vấn đề này tại Công văn số 5744/CT-CS ngày 10/8/2026, trả lời Công ty Cổ phần Giao nhận toàn cầu DHL (Việt Nam).
Cục Thuế căn cứ Điều 3 Luật Thuế GTGT số 48/2024/QH15 được ban hành ngày 26/11/2024 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 làm căn cứ xác định đối tượng chịu thuế GTGT.
“Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.”
Từ quy định trên, một trong những căn cứ quan trọng để xác định dịch vụ có thuộc phạm vi điều chỉnh của thuế GTGT hay không là nơi dịch vụ được sử dụng.
Theo Công văn 5744/CT-CS, trường hợp Công ty Cổ phần Giao nhận toàn cầu DHL (Việt Nam) cung cấp cho doanh nghiệp Việt Nam các dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế gồm:
- Làm hàng;
- Làm thủ tục hải quan;
- Bốc xếp hàng hóa;
- Nâng, hạ hàng hóa;
- Đóng gói;
- Các dịch vụ hỗ trợ vận tải quốc tế có tính chất tương tự;...
Nếu những dịch vụ này không được thực hiện tại Việt Nam, đồng thời không được sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tại Việt Nam, thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT.
Như vậy, việc bên cung cấp và bên mua dịch vụ đều là doanh nghiệp Việt Nam chưa phải là căn cứ duy nhất để kết luận dịch vụ phải chịu thuế GTGT tại Việt Nam. Doanh nghiệp còn phải xem xét bản chất giao dịch, địa điểm thực hiện và nơi dịch vụ thực tế được sử dụng.
2. Không thuộc phạm vi điều chỉnh thuế GTGT khác gì so với thuế suất 0%?
Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu ý: “không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT” không đồng nghĩa với “áp dụng thuế suất GTGT 0%”.
Đây là các cách xác định có bản chất pháp lý khác nhau:
| Cách xác định | Nội dung cơ bản |
| Không thuộc phạm vi điều chỉnh | Giao dịch nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT |
| Không chịu thuế GTGT | Giao dịch thuộc nhóm đối tượng không chịu thuế được pháp luật quy định |
| Áp dụng thuế suất 0% | Giao dịch thuộc đối tượng chịu thuế nhưng được áp dụng mức thuế suất 0% khi đáp ứng đầy đủ điều kiện |
| Không phải kê khai, tính nộp thuế | Một số trường hợp được pháp luật quy định không phải kê khai, tính thuế GTGT |
Việc phân loại không chính xác có thể ảnh hưởng đến:
- Cách lập hóa đơn;
- Cách kê khai thuế GTGT;
- Việc khấu trừ thuế GTGT đầu vào;
- Việc hạch toán doanh thu, chi phí;
- Hồ sơ giải trình khi cơ quan thuế kiểm tra.
Do đó, doanh nghiệp không nên tự động kê khai dịch vụ thực hiện ngoài Việt Nam theo thuế suất 0% chỉ dựa trên kết luận của Công văn 5744/CT-CS. Thay vào đó, Doanh nghiệp cần xem xét ít nhất hai điều kiện trọng tâm.
1/ Dịch vụ không được thực hiện tại Việt Nam
Doanh nghiệp phải xác định cụ thể địa điểm thực hiện từng hạng mục dịch vụ.
Ví dụ, việc bốc xếp, nâng hạ, khai hải quan hoặc đóng gói phải được thực hiện tại cảng, sân bay, kho hàng hoặc một địa điểm khác nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Nếu một gói dịch vụ có cả phần việc thực hiện tại Việt Nam và phần việc thực hiện ở nước ngoài, doanh nghiệp cần tách và xác định rõ từng phần. Công văn 5744/CT-CS không đưa ra kết luận cho trường hợp dịch vụ được thực hiện một phần tại Việt Nam.
2/ Dịch vụ không được sử dụng tại Việt Nam
Ngoài nơi thực hiện, doanh nghiệp còn phải xem xét nơi sử dụng dịch vụ. Đây là vấn đề có thể phát sinh nhiều cách hiểu trong thực tế. Doanh nghiệp nên căn cứ vào:
- Nội dung và mục đích của hợp đồng;
- Đối tượng trực tiếp nhận kết quả dịch vụ;
- Địa điểm hàng hóa được xử lý;
- Quốc gia nơi dịch vụ tạo ra giá trị sử dụng;
- Mối liên hệ giữa dịch vụ với hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Việc một doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng hoặc thực hiện thanh toán không đương nhiên có nghĩa dịch vụ được sử dụng tại Việt Nam. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần có hồ sơ đủ rõ để chứng minh bản chất thực tế của giao dịch.
Công văn 5744/CT-CS đã làm rõ một tình huống thực tế trong lĩnh vực logistics quốc tế: Dịch vụ hỗ trợ vận tải do doanh nghiệp Việt Nam cung cấp cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng không thực hiện tại Việt Nam và không được sử dụng tại Việt Nam thì không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế GTGT.
Công văn của Cục Thuế là văn bản trả lời một tình huống cụ thể của Công ty Cổ phần Giao nhận toàn cầu DHL (Việt Nam), không phải văn bản quy phạm pháp luật đặt ra quy định áp dụng chung. Tuy vậy, nội dung công văn có giá trị tham khảo đáng chú ý đối với các doanh nghiệp logistics/vận tải quốc tế có giao dịch tương tự.
Khi vận dụng, doanh nghiệp phải đối chiếu đầy đủ tình huống thực tế với các điều kiện được nêu trong công văn. Chỉ cần có khác biệt về phạm vi công việc, nơi thực hiện hoặc nơi sử dụng dịch vụ thì cách xử lý thuế có thể thay đổi.
Việc chuẩn hóa hợp đồng, chứng từ và dữ liệu nghiệp vụ ngay từ đầu sẽ giúp doanh nghiệp xác định nghĩa vụ thuế chính xác hơn, đồng thời hạn chế rủi ro khi cơ quan thuế kiểm tra.
Tài Phạm
ECUS là giải pháp phần mềm khai hải quan điện tử của Công ty Thái Sơn, phần mềm thường xuyên cập nhật các chính sách mới về hải quan, thuế và hoạt động xuất nhập khẩu, giúp doanh nghiệp kịp thời nắm bắt quy định và chủ động rà soát quy trình nghiệp vụ.
Doanh nghiệp cần hỗ trợ trong quá trình sử dụng phần mềm ECUS vui lòng liên hệ trung tâm HTKT ECUS, tổng đài.
- Khu vực miền Bắc: 1900 4767
- Khu vực miền Trung & miền Nam: 1900 4768









